Quần thế Di tích Quốc gia đặc biệt An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương
1. ĐỀN CAO AN PHỤ
 
 
 Tam quan Đền Cao An Ph
 
 Đền Cao nằm ở bên trái ngọn núi An Phụ, ngọn núi cao nhất của cả dãy núi (Đỉnh An Phụ cao 243,8m). Ngôi đền quay lưng hướng Đông. Đền được xây dựng từ sau khi An Sinh Vương Trần Liễu qua đời. Lúc đầu, đền chỉ nhỏ như một cái miếu, trải qua thời gian, mưa gió, ngôi miếu đã bị đổ. Sau đó được dựng lại to hơn. Qua nhiều lần trùng tu, ngôi miếu được gọi là Đền và có quy mô to đẹp như ngày nay. Đền Cao thờ An Sinh Vương Trần Liễu. Tương truyền là phần mộ của Người vẫn còn ở vị trí trong hậu cung của đền. 
 
 
 
 Đền Cao
 
 
 
 Chùa Tường Vân
 
 Chùa Tường Vân còn gọi là Chùa Cao, ở bên phải ngôi đền thờ Trần Liễu (đứng từ cổng nhìn vào). Chùa cũng quay hướng đông, được xây dựng từ thời Trần. Đến nay, chùa đã qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu quy mô nhất là vào thế kỷ XVII do công quỹ triều đình cắt cho. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 2008. Mặc dù trải qua nhiều lần sửa sang, tu bổ nhưng chùa vẫn tọa trên nền móng cũ và vẫn mang được dáng dấp cũ. Đứng ở cổng chùa nhìn ra là dãy cây đại cổ thụ có tuổi đời khoảng sáu bảy trăm năm, đứng bên hai giếng nước có tên giếng Mắt Rồng và Giếng Ngọc quanh năm không bao giờ cạn nước. Cũng ở vị trí ấy, nhìn về phía Đông Bắc, xa xa là núi Yên Tử, nơi Trần Nhân Tông tu hành lập nên phái Trúc Lâm Thiền của Việt Nam ta. Điểm nổi bật của chùa là thờ Tam Giáo Đồng Nguyên nên trong chùa có bày tượng Phật, tượng Đức Thánh Hiền và tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế.
 
 
 Quang cảnh Đền Cao An Ph
 
Bên trái chùa Tường Vân (đứng cửa chùa nhìn ra) là đền thờ Mẫu Tứ phủ. Ngôi đền được xây dựng to bằng ngôi chùa, kiến trúc cũng thấp như chùa. Đây là ngôi đền có bày đầy đủ các hàng tượng thờ như hàng Mẫu ở trên cùng gồm ba vị: Mẫu Thiên, Mẫu Nhạc, Mẫu Thoải (trong dân gian, việc bày ba vị mẫu vẫn được coi như bốn vị Mẫu - Mẫu Tứ phủ). Dưới hàng Mẫu là hàng quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng. Riêng Cô, Cậu thì xây lầu riêng, phía trước đền, cạnh giếng. Hàng năm các du khách đi lễ chùa đồng thời vào lễ thánh Mẫu. Nhiều canh hầu Thánh, hát văn diễn ra tại đền thường xuyên vào mùa xuân thu hút rất đông khách thập phương.
 
 
 Đường lên Đền Cao An Ph
 
 Ra khỏi cổng khu đền chùa, đi xuống chừng 50m, rẽ trái theo đường bậc đá, đến chân núi là gặp chùa Gạo. Lối này sườn núi dốc nhưng đã có hàng nghìn bậc đá nên dễ đi. Vừa đi vừa chiêm ngưỡng, cảnh đất trời rừng cây. Đôi khi mây ùa đến âu yếm quấn lấy du khách. Tương truyền chùa Gạo xưa là kho thóc gạo của An Sinh Vương Trần Liễu dựng lên để trữ lương thực cung cấp cho triều đình. Vùng đất chùa Gạo còn hoàng vu, chỉ có những cây mít lâu năm và một số tháp đá cổ. Năm 2013 ngôi chùa được xây dựng lại với 5 gian bái đường, một gian hậu cung.
 
  
 Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
 

 

 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt phiến đá đầu tiên xây dựng Tượng đài

 Ngày 20-8-Quý Dậu (05/10/1993), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lên đặt phiến đá đầu tiên vào vị trí sẽ xây dựng tượng. Tượng Hưng Đạo Đại Vương được tạc ở tuổi 50 - 65, ở thế đứng. Tay trái tỳ đốc kiếm, tay phải cầm cuốn thư, chân dung vẻ quắc thước, mắt nhìn thẳng ra phía biển đông (nơi có cửa sông Bạch Đằng) thể hiện một con người dư thừa nội lực, văn võ song toàn, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đập tan giặc xâm lăng. Tượng đài được tạc bằng đá xanh núi Nhồi Thanh Hóa, cao 9,7m cộng bệ tượng cao 3m. Bên trái tượng là bức phù điêu dài 45m, rộng trung bình là 2,5m gồm 526 viên gạch do các nghệ nhân làng Cậy (huyện Bình Giang, Hải Dương) nung. Bức phù điêu miêu tả khái quát về toàn bộ cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt chống giặc Mông Nguyên thế kỷ XIII.

 Ngày 22.12.2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quần thể An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương.

          2. NHẪM DƯƠNG
 
 
 Hang Thánh Hóa
 

Hang Thánh Hóa, di tích Khảo cổ chùa Nhẫm Dương: Hang nằm ngay phía sau chùa, đây là hang không rộng nhưng sâu xuống và vào sâu trong núi. Năm 2000 Sư thầy Thích Diệu Mơ cho đào trong hang để tìm một số tượng Phật bằng đá được chôn cất vào thời Pháp phá chùa. Nhà sư bất ngờ phát hiện một số vật thể có dấu hiệu lạ nên giữ lại rồi báo cho Bảo tàng Hải Dương. Bảo tàng tỉnh về xem xét, thu gom, lưu giữ rồi báo với Viện Khảo cổ. Qua nghiên cứu, Viện Khảo cổ kết luận: đây là răng hóa thạch của Đười ươi ở thời Canh Tân, đây là xương hàm dưới Tê giác cùng hàng chục hóa thạch của Voi Ấn Độ, Gấu, Ngựa, Trâu, Nai. Lợn rừng,… cùng một số mảnh sọ, 5 chiếc răng, xương chi của một người thuộc thời đồ đá. Ngoài ra ở khu gần cửa hang còn phát hiện những mảnh gốm men nâu thời Trần, thời Lê và rất nhiều tiền đồng thời Nguyễn. Tất cả các cổ vật ấy đã tạo cho khu vực chùa Nhẫm Dương thành một địa chỉ khảo cổ, góp thêm một tiếng nói cho lịch sử nước nhà và là niềm tự hào của dân tộc.

  
 Di vật, cổ vật tại Nhẫm Dương 

Từ hang Thánh Hóa đi ra, sang phía tay phải, men theo sườn núi đá tai mèo chừng hơn trăm mét, lên lưng chứng núi là động Tĩnh Niệm. Cửa động quay hướng Đông. Vòm động cao và rộng, quanh năm nước rơi tý tách. Đứng ở cửa động nhìn được một vùng rộng lớn núi non, ruộng đồng, làng xóm. Thời kỳ đầu cách mạng, nhiều cán bộ tiền bối đã từng hoạt động ở Nhẫm Dương, trong đó có cụ Hoàng Quốc Việt.

 
Động Tĩnh Niệm  

Chùa Nhẫm hay Nhẫm Dương còn có tên là Thánh Quang Tự, tọa lạc dưới chân dãy núi hình vòng cung. Đây là vùng đất trũng, hoang vu, hiểm trở, xa xưa đã được gọi là Trũng Nhẫm. Thánh Quang Tự là tổ đình lớn và nổi tiếng của Phật Giáo vùng Đông Bắc, do Thánh Tổ Thủy Nguyệt khai sáng vào năm 1279 theo phái Tào Động. Tiếp theo là đệ nhị Tổ Trân Độc Hòa Thượng. Thứ ba là Thiền Sư Đô Tuệ. Thế hệ thứ tư là Tuệ Dong Đại Sư cùng nhiều cao tăng đại đức đã trụ trì và hoằng pháp tại đây. Do sự biến đổi của lịch sử Nhẫm Dương đã bị tàn phá chỉ còn lại ngôi Bảo Tháp, một số bia đá, gạch trang trí hoa văn đời Trần cùng mấy cây Thị. Từ năm 1968 chùa Thánh Quang mới được từng bước khôi phục lại, nhất là từ năm 1987 khi sư thầy Thích Diệu Mơ về trụ trì. Đến nay, ngôi chùa đã khang trang: có Tiền đường, Hậu cung, Nhà tổ, tăng phòng, khu sinh hoạt của các tu hành. Hàng năm, chùa mở lễ hội vào 3 ngày (từ mồng 5 đến mồng 7 tháng 3 âm lịch) thu hút rất đông khách thập phương.

Nhẫm Dương không chỉ là danh lam, thắng cảnh mà còn là di tích lịch sử rất có giá trị. Vì thế ngày 22.12.2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quần thể An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương.
 
 
 Quang cảnh chùa Nhẫm Dương - Xã Duy Tân - Huyện Kinh Môn
 
             3. ĐỘNG KÍNH CHỦ
 
 
 Toàn cảnh động Kính Chủ - Xã Phạm Mệnh - Huyện Kinh Môn 

 Dãy núi Bồ Đà: Dãy núi Bồ Đà còn có tên là Xuyến Châu, Thạch Môn, Dương Nham, thường gọi là núi Kính Chủ. Đây là dãy núi đá vôi nằm sát sông Kinh Thầy, có nhiều ngọn như: Tháp Bút, Chợ Trời,... và có rất nhiều hang động hiểm trở như: hang Dơi, hang Luồn, hang Trâu, hang Tiên Sư,... nhiều động đẹp như động Ngũ nước và động Kính Chủ. Vì thế thời Trần, quan Hành Khiển Phạm Sư Mạnh đã chọn đây làm bản doanh để duyệt quân của năm Lộ. Thời chống Pháp, đây cũng là khu căn cứ mà du kích thường vượt sông để vào với Đệ Tứ chiến khu Đông Triều. Thời đế quốc Mỹ đánh phá, dãy núi này là nơi xây dựng mấy kho xăng dầu. Vì vậy máy bay Mỹ đã 7 lần đánh phá ác liệt vào vùng kho và làng mạc.

Động Kính Chủ: Động Kính Chủ nằm ở lưng chừng núi đá vôi Bồ Đà, nền động cách mặt đất khoảng 20m. Cửa động quay hướng đông, rộng, đón gió mát rượi. Vòm động cao và rộng, chia làm hai nửa. Nửa bên trái vòm động tròn, cao hút hình quả chuông. Vào sâu bên trong là dòng suối nước trong vắt và sâu thẳm. Nửa bên phải vòm rộng, cao và tối, là nơi hàng vạn con dơi quạ trú ngụ. Thời đánh Mỹ đây là lò nấu gang của Hải Phòng sơ tán về.

 
 

Ngăn cách giữa hai vòm động là “bức tường” nhũ đá, vì máy bay Mỹ ném bom vào cửa động nên “bức tường” đổ gẫy. Trên vách đá, hai bên động có tới trên 50 tấm bia ghi lại việc xây dựng chùa và thơ văn của vua chúa cùng các danh sỹ vịnh cảnh được thợ đá của làng chạm khắc rất tinh xảo. Đây là động có nhiều văn bia nhất nước ta. Quý nhất là bia khắc bút tích của vua Lê Thánh Tông và bài thơ của Phạm Sư Mạnh, tất cả các bút tích vẫn còn nguyên vẹn.

Chùa Dương Nham: Chùa cổ Dương Nham có tên là Dương Nham Tự được xây dựng từ thời Lý, ở vòm bên trái Động Kính Chủ. Chùa thờ Phật, thờ Lý Thần Tông, Minh Không Thiền Sư và Huyền Quang Tôn Giả. Ngôi chùa đã nhiều lần trùng tu, lớn nhất là năm 1530. Chùa có Thượng điện, Tiền điện, Hành lang, tượng phật Ngọc Hoàng bằng đá xanh, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát 42 tay rất đồ sộ, Gác chuông, Tam quan. Năm 1929 đúc tượng Cửu Long bằng đồng và hai pho tượng Thiên Quan và Địa Quan. Chùa có tới 12 mẫu, 10 thước ruộng và mấy chục vị Hậu. Hàng năm chùa có hai ngày lễ lớn là 11 và 12 tháng 11 và hội kéo dài từ 5 - 7 ngày. Chùa cổ Dương Nham bị Pháp tàn phá. Ngày nay bà con trong làng đang từng bước khôi phục lại.

Ngày 22.12.2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quần thể An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương.

 
 
In trang Quay lại Lên trên
Các tin khác
- Di tích cấp Quốc gia trên địa bàn huyện Kinh Môn (03/10/2019)
++ THÔNG BÁO
+ V/v thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19
+ Về việc thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn thị xã
+ Về việc phòng ngừa sự lây lan Covid-19 tại Bộ phận Một cửa các cấp
+ Thông báo lịch làm việc của Lãnh đạo Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thị xã Tuần 14 (từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 05/4/2020)
+ Thông báo về việc tạm dừng các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch; các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa để phòng, chống dịch bệnh Covid-19
Lịch làm việc
Thư điện tử
Học tập và làm theo lời Bác
++ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Dịch vụ Công Thị xã Kinh Môn
Bộ Thủ tục Hành chính Thị xã
TTHC tỉnh Hải Dương
++ HỆ THỐNG VĂN BẢN
Văn bản ban hành của Thị xã
Văn bản ban hành của tỉnh
Văn bản QPPL
Công báo tỉnh Hải Dương
++ VIDEO HOẠT ĐỘNG
++ ĐÀI PHÁT THANH THỊ XÃ
- Sông núi Kinh Môn
- Kinh Môn bay lên
- Kinh Môn quê tôi
- Kinh Môn yêu dấu
- Về Kinh Môn quê tôi
THÔNG TIN CỦA TỈNH
LƯỢT TRUY CẬP
Đang online: 228
Hôm nay 845
Tháng này: 6,544
Tất cả: 544,425
THƯ VIỆN ẢNH